Để làm được “con người tự do”, cần có những năng lực nào?

0

Năng lực khai phóng: khai minh và giải phóng bản thân

Khai là mở và minh là sáng, khai minh có nghĩa là mở toan con người tăm tối, con người vô minh, giáo điều, ấu trĩ của mình ra để đưa ánh sáng của chân lý, sự thật và tự do vào.

Năng lực khai tâm: đó là một trái tim “có hồn”, một trái tim biết rung lên trước cái hay cái đẹp (nhất là cái đẹp vô hình, cái đẹp không nhìn thấy, không sờ thấy, mà chỉ có thể cảm thấy), biết thổn thức trước những nỗi đau, biết phẫn nộ trước cái sai, cái xấu và cái ác, một trái tim đầy tình yêu thương và giàu lòng trắc ẩn. Một người mà không còn xúc cảm, không còn tin vào điều gì, nhất là những điều tốt đẹp trong cuộc đời này, cũng như không còn biết đau chung nỗi đau của con người thì về cơ bản, người đó đã “chết lâm sàn” hay có vấn đề về “nhân tính”.

Tư tưởng quyết định số phận, chính là hệ thống các quan niệm nền tảng làm cơ sở cho việc hình thành các ước muốn, cũng như các nguyên tắc và cách thức nhằm đạt được những ước muốn đó. Hay còn gọi là “hệ điều hành”, “hệ giá trị”, “ý thức hệ” của mỗi người. Những quan niệm nền tảng này thường là lời giải đáp cho các câu hỏi: Thế nào là con người? Thế nào là công dân? Thế nào là đúng việc trong công việc, nghề nghiệp hay sự nghiệp của mình? Thế nào là thành công? Thế nào là hạnh phúc? Sống để làm gì? Ý nghĩa cuộc đời nằm ở đâu? Điều gì thực sự đáng tự hào?…

Nếu ta có những quan niệm đúng đắn gần với chân lý và tự do về những vấn đề hệ trọng trong đời, và cả đời này sẽ sống đúng với những quan niệm đó thì ta sẽ có cuộc đời mong muốn, còn nếu ta mang trong mình những quan niệm sai lầm, lệch lạc; hay thậm chí đến khi chết vẫn chưa nhận ra là sai lầm, lệch lạc thì hậu quả sẽ ra sao, cuộc đời ta sẽ ra sao? Nói cách khác, không phải thay đổi ước muốn (“tôi không nên ước muốn có nhiều của cải nữa”) mà thay đổi quan niệm / tâm niệm (“điều gì khiến tôi thực sự tự do và hạnh phúc”) mới là thứ thực sự thay đổi gốc rễ số phận một con người.

Minh định: minh là sáng, định là phân; có nghĩa là có khả năng phân biệt một cách sáng suốt được “ai là ai”, “cái gì là cái gì” và “mình là ai”. Chẳng hạn, khi nhìn vào giới có học thì sẽ minh định được ai là trí thức, ai là trí ngủ, ai là trí dỏm, ai là trí gian và ai là trí nô; nhìn vào giới làm ăn thì sẽ minh định được ai là doanh nhân, ai là trọc phú, ai là con buôn; nhìn vào giới ca hát thì sẽ minh định được ai là nghệ sĩ và ai là thợ hát; nhìn vào báo giới thì minh định được ai là nhà văn và ai là bồi bút… Và trong xã hội mà kim tiền lên ngôi, vàng thau đều khó phân, các thang giá trị bị đảo lộn, thì việc minh định được phải – trái, đúng – sai, lẽ sống – lẽ chết, chân – giả, thiện – ác, chính – tà, tốt – xấu, hay – dở, nên – không nên, đáng trọng – đáng khinh… quả thật không dễ chút nào. Dựa vào đâu để xác đinh là “đúng” và dựa vào đâu để xác định là “sai”?

Mỗi người sẽ có một “hệ quy chiếu” chính là những tư tưởng và hệ thống quan niệm riêng để dựa vào đó mà “vạch lằn ranh” cho mình. Tuy nhiên, có một hệ quy chiếu chung để minh định được đúng – sai, phải – trái đó là dựa vào sự phù hợp với bốn cái đạo:

  • “Đạo luật”: hiến pháp của nhân dân, pháp luật của nhà nước, luật pháp quốc tế.
  • “Đạo lý” của gia đình, của tổ chức, của địa phương, của dân tộc, của thế giới tiến bộ.
  • “Đạo thiêng”: nếu theo một tôn giáo nào đó, như Đạo Phật, đạo Hồi, đạo Thiên Chúa…
  • “Đạo sống” của bản thân, chính là “con người bên trong” của mình.

Thường thì “đạo luật” sẽ đi từ “đạo lý” và hai cái này thường không mâu thuẫn nhau. Nhưng đôi khi, đạo luật và đạo lý lại không khớp nhau và thậm chí lại trái nghịch nhau, vì đạo luật đã không xuất phát từ đạo lý (ví dụ phân biệt chủng tộc màu da).

“Đạo lý” của xã hội rất đa dạng, có thể là đạo lý của làng, đất nước, thế giới tiến bộ và đạo lý của các xã hội này có khi lại rất mâu thuẫn nhau, vì vậy mình phải minh định được đâu là đúng – sai, tốt – xấu để chọn cho mình cách hành động phù hợp. Và đôi khi đạo lý của bản thân cũng không trùng với đạo lý của xã hội, không trùng với những cái xã hội xem là bình thường. Chẳng hạn, ở một số xã hội thì việc ăn thịt chó được cho là bình thường nhưng với một số người thì ăn thịt chó là hành động không thể chấp nhận được vì chó được xem là “bạn” của con người, nên con người không thể ăn bạn của mình được! Ngoài ra, có những người chọn đạo lý của thế giới tiến bộ làm “đạo sống” cho mình, nhưng họ lại sống trong những xã hội mà “luân thường đạo lý” của xã hội đó lại khá xa với các chuẩn giá trị của thế giới văn minh, tiến bộ. Trong trường hợp này, chắc chắn sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa “đạo lý” của xã hội và “đạo sống” của bản thân. Khi đó, hẳn là người đó sẽ chọn hành động theo đạo sống của bản thân, theo lẽ sống, giá trị sống, nguyên tắc sống của chính mình.

Nếu như việc minh định được “ai là ai”, “cái gì là cái gì” đã là điều khó, thì việc minh định được “mình là ai” có lẽ còn khó khăn hơn nữa với bất kì ai. Vì trong tất cả những ngộ nhận của con người thì ngộ nhận về bản thân mình là đáng sợ nhất. Đó là ngộ nhận về sự hiểu biết của mình, ngộ nhận về tài năng của mình, ngộ nhận về văn hóa của mình, ngộ nhận về đóng góp của mình, ngộ nhận về uy tín và phẩm giá của mình… Và trong tất cả những ngộ nhận về bản thân thì ngộ nhận về phẩm giá và ngộ nhận về sự hiểu biết của mình là nguy hại nhất. Do vậy, mình định được “mình là ai”, “đâu là mình”, hiểu biết của mình ra sao, mình giỏi cái gì và giỏi cỡ nào, mình đóng góp được gì… là một phần trọng yếu trong năng lực “khai phóng” của mỗi người.

Chọn lọc từ sách Đúng Việc, tác giả Giản Tư Trung

Share.

About Author